Thứ Hai, 12 tháng 8, 2013

FITHOU - 20 năm nhìn lại (3)

·        Phần 3. KHẲNG ĐỊNH VỊ THẾ -  (1997 - 2006).

Năm 1995. Khóa  đào tạo văn bằng 2 và khóa chuyển tiếp đầu tiên - Khóa 01-91-01A và 02-91- 01A- với số lượng rất khiêm tốn: 27 người (sĩ số lúc nhập học năm đầu là 38), đã hoàn thành chương trình đào tạo và nhận bằng tốt nghiệp. Sang năm 1997 khóa đào tạo chính qui hoàn chỉnh đầu tiên của Khoa 00 - 93 – 01B cũng tốt nghiệp ra trường và được nhận bằng kỹ sư Tin học hệ chính qui: Đây là những cột mốc hết sức đáng nhớ của Khoa và Viện.
Năm học 1996-1997 và 1997 – 1998 có thể xem là hai năm bản lề trong quá trình phát triển của Khoa CNTT – ĐH Mở Hà Nội…
·         Bước ra khỏi cửa …
Năm 1994, lại có hai khóa đào tạo chuyển tiếp và văn bằng 2:  01- 92A và 02-92A tốt nghiệp với tổng số 68 sinh viên.




Một lễ trao bằng tốt nghiệp cho sinh viên ở Trung tâm Nam Định
Cô chủ nhiệm lớp Nguyễn thị Thanh Thủy dặn dò sinh viên ..

Năm 1997, trong dịp Lễ tốt nghiệp của Khóa sinh viên hệ chính qui đầu tiên – khóa 00- 93 - 01A, Khoa đã mời một số  một số cơ quan doanh nghiệp – đặc biệt là những doanh nghiệp đã tiếp nhận và sử dụng các sinh viên tốt nghiệp hai năm trước. Các doanh nghiệp đó dều vui vẻ đến dự và tặng quà, tặng học bổng cho sinh viên trong Khoa, đặc biệt có những cơ quan doanh nghiệp hoàn toàn chưa có quan hệ từ trước nhưng chỉ nghe tiếng về một địa chỉ đào tạo mới, sau khi tìm hiểu, cũng đã chủ động tặng quà như: Chủ tịch HĐQT Ngân hàng Hàng hải VN – Maritime Bank – tặng 2 triệu đồng, Tổng giám đốc Doanh nghiệp St Simon Pte LTD, Cộng hòa Pháp tặng 1000 USD v..v.. làm quà thưởng cho sinh viên xuất sắc các khóa 00-94B, 00-95B và 00-96B. (Nhớ rằng vào thời điểm đó, hệ số  lương tối thiểu bậc 1 chỉ là 120.000 đồng, học phí sinh viên hệ chính qui một năm là 360.000 đồng, 1000 USD lúc đó tương đương với 12 triệu đồng Việt Nam tức là gần 40 suất học bổng toàn phần!)

·         Chương trình đào tạo nghề Kỹ thuật viên Tin học
Thời kỳ đó, nhu cầu của rất nhiều công ty, doanh nghiệp về cán bộ thực hành tin học rất lớn, Khoa cũng vẫn là một đơn vị được phép đào tạo các chứng chỉ Tin học A, B…của Bộ, kế tiếp nhiệm vụ của Trung tâm Tin học Viện Đào tạo mở rộng I trước đây. Các Trung tâm Tin học A, B…bên ngoài mọc lên như nấm nhưng chất lượng đào tạo không hề đáp ứng cho nên không được tín nhiệm. (Học viên chỉ nhằm kiếm được chứng chỉ nộp các hồ sơ công chức theo thủ tục, không có kiến thức thực sự)
Nhận thấy rõ có nhiều vấn đề về nội dung và phương pháp đào tạo trong các chương trình đó không phù hợp với nhu cầu thực tiễn của thị trường lao động đương thời, học tập kinh nghiệm của Trường kỹ thuật Đông Melbourne – Eastern Melbourne Institute of Technical and Further Education, thường gọi tắt là TAFE - Khoa đã mạnh dạn đề xuất với Viện cho thực hiện một chương trình đào tạo nghề rất cơ bản: chương trình Kỹ thuật viên Tin học, thời gian đào tạo 01 năm, chú trọng nhiều về năng lực thực hành ứng dụng các kỹ năng như: Tin học văn phòng, kế toán, quản trị dữ liệu và một chút ít về đồ họa máy tính và AutoCAD cũng như một số kiến thức về phần cứng: Kiến trúc máy tính, bảo trì máy tính, lắp đặt và cài đặt các mạng máy tính cục bộ. Chỉ sau 1 năm (2 học kỳ) người kỹ thuật viên tin học được đào tạo theo chương trình này có thể độc lập phụ trách các ứng dụng tin học, làm việc tại các doanh nghiệp/công ty nhỏ một cách có hiệu quả. Trong khi xây dựng chương trình đào tạo, cán bộ của Khoa, nhất là lớp sinh viên trẻ mới tốt nghiệp được giữ lại công tác tại Khoa, đã bỏ nhiều thì giờ thâm nhập tìm hiểu nhu cầu cấp thiết trước mắt về ứng dụng tin học ở một số doanh nghiệp vừa và nhỏ, đồng thời tìm hiểu thực trạng đào tạo ở các Trung tâm đào tạo tin học bên ngoài và phân tích để thấy chỗ mạnh, chỗ yếu của họ. Trong vài tháng cuối khóa đào tạo, trước khi thi tốt nghiệp, thông qua một  số Thầy có quan hệ nhiều với các doanh nghiệp, Khoa đã cố gắng cho tất cả học viên có dịp thực tập tại một số doanh nghiệp cụ thể. Chính vì vậy  32 kỹ thuật viên đầu tiên tốt nghiệp năm 1996 đều được các doanh nghiệp đón nhận về làm việc ngay và đều chứng tỏ được năng lực của mình.
Chương trình đào tạo KTV Tin học  - học tập theo chương trình đào tạo  TAFE của Úc và Community College của Mỹ – còn để ngỏ một hướng cho học viên, sau khi tốt nghiệp KTV, nếu tiếp tục theo học các hệ đào tạo dài hạn trong Khoa thì có thể được miễn giảm, rút ngắn thời gian đào tạo một số học phần thực hành. Việc làm này là thực hiện theo phương thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ của Úc và Mỹ nhưng ngày đó ở Việt Nam chưa ai đề xuất chứ đừng nói chuyện chấp nhận kiểu đào tạo đó! Vì vậy Khoa phải rất khéo léo trong việc bố trí sắp xếp để vẫn tiến hành được mà không vi phạm qui chế đào tạo của Bộ và của Viện.
Lần lượt trong 3 năm 1996 – 1999, 6 khóa KTV TH đào tạo theo mô hình của Khoa tỏa về làm việc tại các tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp trong cả nước, được tiếp nhận và phát huy tác dụng rõ rệt. Đối với Bộ GD & ĐT thì Giấy chứng nhận đào tạo KTV TH của Viện và Khoa không được coi là một chứng chỉ học tập có giá trị - nghĩa là không thể kê khai như chứng chỉ Tin học A, B để lập hồ sơ thi công chức chẳng hạn – nhưng thị trường lao động, nhất là khu vực ngoài quốc doanh và khu vực lien doanh với nước ngoài thì qua kiểm tra phỏng vấn lại sẵn sang tiếp nhận KTV của Khoa đào tạo mà hoàn toàn không hề chấp nhận và đánh giá cao người có Chứng chỉ Tin học A, B của Bộ GD & ĐT.

Được Viện trưởng ĐH Mở HN lúc đó là GS Nguyễn Kim Truy rất ủng hộ nên dù có vài ý kiến trái chiều, Chứng chỉ tốt nghiệp của hệ KTV vẫn do Viện và Khoa phát hành – không thuộc hệ thống bằng cấp chứng chỉ của Bộ GD & ĐT quản lý - có chữ ký và dấu của Chủ nhiệm Khoa CNTH và Viện trưởng Viện ĐH Mở Hà Nội, in bằng song ngữ Việt/Anh, đã tạo điều kiện dễ dàng cho hàng trăm người xin việc được vào làm tại các doanh nghiệp, nhất là khu vực doanh nghiệp tư nhân,  liên doanh hoặc doanh nghiệp có vốn nước ngoài.
Do lợi ích trước mắt và lâu dài của chương trình đào tạo này nên không ít sinh viên hệ chính qui trong khoa, và rất nhiều sinh viên các khoa khác trong Viện – kể cả sinh viên những trường đại học khác – song song với việc học chính qui tại trường, khoa mình, cũng đăng ký theo học hệ đào tạo này!
Ngay cả một số khá đông cán bộ công viên chức, do nhu cầu công việc, cũng đến đăng ký học chương trình KTV: học để lấy nghề chứ không cần lấy chứng chỉ, bằng cấp.

(Điều này xét cho cùng là có lợi cho xã hội và cho người lao động cũng như người sử dụng lao động, nhưng đã gây ra khá nhiều điều phiền phức tế nhị trong quan hệ giữa FIT-HOU, Viện ĐH Mở Hà Nội với một số bộ phận quản lý đào tạo nhiều cấp. Chính vì vậy mà đến năm 2001, khi mà hệ đào tạo KTV đang phát triển rất mạnh mẽ thì Viện ĐH Mở HN lại không thể sử dụng con dấu đóng vào chứng chỉ KTV nữa!)

·         Thành lập CHI HỘI TIN HỌC Đại học Mở Hà Nội
Từ năm 1995, đã bắt đầu có sinh viên tốt nghiệp của Khoa ra trường, đảm nhiệm công tác ở nhiều cơ quan đơn vị trong cả nước, họ vẫn có nguyện vọng giữ một mối quan hệ gắn bó với Khoa. Nhiều cộng tác viên của Khoa cũng rất muốn tham gia các hoạt động nghiên cứu, học thuật cùng với tập thể cán bộ nhân viên trong Khoa. Tuy nhiên về mặt tổ chức thì Khoa CNTH của một Viện Đại học không thể có chức năng quản lý, điều phối những hoạt động trong phạm vi rộng như thế.
Là một thành viên sáng lập và cũng đã từng tham gia Ban Chấp hành Trung ương Hội Tin học Việt Nam, GS Thái Thanh Sơn đã thảo luận đề xuất giải pháp thành lập một chi hội của Hội Tin học Việt Nam, có thể thu hút thành viên một cách khá rộng rãi.
Ngày 01/6/1997 đại hội lần thứ nhất thành lập Chi hội Tin học Đại học Mở trực thuộc BCH TW Hội Tin học Việt Nam đã tiến hành thắng lợi và ngay sau đó đã được Chủ tịch BCH TW Hội Tin học Việt Nam ra quyết định công nhận.
Chi hội Tin học ĐH Mở Hà Nội bao gồm các phân hội gồm hội viên là cán bộ ngay trong Khoa và trong Viện, và có những phận hội bên ngoài, thu hút thành viên là những cựu sinh viên của Khoa, những cộng tác viên của Khoa trong từng ngành, từng khu vực như: phân hội quận Tây Hồ, phân hội Bắc Ninh, phân hội Hải phòng, phân hội Sơn Tây, phân hội Đà Nẵng, phân hội Quảng Ngãi, phân hội Bình Định; ngoài ra còn có những hội viên cá nhân trực thuộc …thời kỳ đông nhất số lượng hội viên lên đến trên 400.
Ngay sau khi thành lập Chi hội và các phân hội đã xúc tiến các hoạt động nghiên cứu, đào tạo tại các Trung tâm đào tạo thường xuyên Tây Hồ - Hà Nội, An Hải - Hải Phòng, tại trường Cao đẳng thống kê Bắc Ninh, trường Cao đẳng Việt Hung và các Trung tâm đào tạo tin học ở Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định…và hỗ trợ các cơ sở kinh doanh trong lĩnh vực CNTT của các hội viên trong Chi hội chủ trì. Chi hội cũng rất quan tâm hỗ trợ có hiệu quả về mặt công nghệ cho các cơ sở kinh doanh trong ngành CNTT do hội viên chủ trì: điều này tạo điều kiện cho nhiều  sinh viên được tiếp xúc nhiều với thực tiễn và trưởng thành nhanh chóng.
*Hệ đào tạo Kỹ thuật viên Tin học được Chi hội tiếp quản, chứng chỉ KTV Tin học do Khoa và Chủ tịch Chi hội Tin học ký tên đóng dấu thay cho chữ ký và con dấu trước đây của Viện ĐH Mở HN. Kỹ thuật viên do các trung tâm thuộc Chi hội đào tạo ra vẫn được các nhà sử dụng tín nhiệm tiếp nhận như trước.
*Một hoạt động nổi bật của Chi hội là việc Chi hội chủ động nhận với Khoa đảm nhiệm hoàn toàn việc tổ chức hướng dẫn, bồi dưỡng và quản lý các đội tuyển sinh viên của Khoa hang năm tham sự kỳ thi Olympic Tin học toàn quốc do Hội Tin học VN và Bộ Giáo dục &Đào tạo đồng tổ chức, Ngay lần tham gia đầu tiên năm 1998, sinh viên Dương Thăng Long khóa 00-96B1 đã đạt giải Nhì khối chuyên Tin khu vực phía Bắc và giả Ba toàn quốc. Liên tiếp trong các năm sau, hàng năm sinh viên của đội tuyển Olympic Tin học Khoa CNTH – ĐH Mở HN luôn có người đạt thứ hạng cao và xếp hạng toàn đoàn hàng năm trong các trường đại học toàn quốc luôn vào loại Top 5, chỉ sau một vài trường lớn như: ĐH Bách khoa HN và TP HCM, ĐH Khoa học tự nhiên, Học viện kỹ thuật quân sự … Chính điều này đã góp phần rất quan trọng cho uy tín và tín nhiệm trong toàn quốc về mặt đào tạo tin học của Khoa: Trong “làng tin học” người ta đã nhắc đến tên FIT-HOU như là một địa chỉ đáng tin cậy, được coi trọng. Sinh viên FIT-HOU tốt nghiêp khi dự thi tuyển vào các cơ quan, xí nghiệp đều được xem là những đối thủ đáng gờm, và thực sự cũng đúng là như vậy!
·         Tổ ấm ổn định,
Sự ra đời của Chi hội Tin học cũng đã giúp Khoa giải quyết một vấn đề rất cơ bản: vấn đề địa điểm học tập.
Khó khăn rất lớn của Khoa CNTH nói riêng cũng như của toàn thể các Khoa trong Viện Đại học Mở Hà Nội nói chung từ những ngày đầu thành lập vẫn là việc tìm kiếm cho được một địa điểm khang trang đủ điều kiện tối thiệu để có thể tiến hành học tập ổn định trong ít nhất từ 5 – 10 năm.
Trong năm học đầu tiên 1993 – 1994 với số lượng sinh viên rất ít Khoa sử dụng địa điểm học tập cho sinh viên tại mấy phòng học chung của Viện ở cơ sở một phố Nguyễn Hiền trong khu Bách khoa.
Từ năm sau số lượng sinh viên các hệ đào tạo trong khoa dự kiến sẽ tăng lên gấp 3, 4 lần, lại có nhu cầu bức thiết về phòng máy tính cho thực hành nên địa điểm học tập tại cơ sở 1 của Viện hoàn toàn không thể đáp ứng được.
*Trước hết thông qua sự kết nối tích cực của đ/c Cao Mạnh Toàn và các hội viên Chi hội Tin học trong Khoa với Hội Tin học Hà Nội, Khoa đã liên hệ được với Công ty máy tính 3C giúp đỡ, hỗ trợ cho Khoa ký hợp đồng toàn quyền quản lý, khai thác và sử dụng một phòng máy tính gồm một mạng Novel Netware với 32 máy trạm và đầy đủ phụ kiện, thiết bị kèm theo. Khoa thành lập một Trung tâm thực hành đặt tại Câu lạc bộ Thanh niên Hà Nội ở Phố Tăng Bạt Hổ phân công một tổ quản lý do  Trương Tiến Tùng, lớp trưởng của khóa đầu tiên 91-01A mới tốt nghiệp được giữ lại Khoa làm Trưởng Trung tâm, cùng với Nguyễn thị Thu Thủy và Đinh Việt Nga - cũng là 2 sinh viên tốt nghiệp của Khoa được giữ lại - cùng quản lý . Tại thời điểm đó phòng máy tính thực hành như vậy đã là một niềm kiêu hãnh của cán bộ và sinh viên trong Khoa và cũng là niềm mơ ước của nhiều đơn vị đào tạo Tin học chính qui khác.
*Tiếp đó, các hội viên của phân hội Tây Hồ trong Chi hội Tin học lại quan hệ và giới thiệu cho Khoa thuê được địa điểm học tập tập trung và độc lập trong một khu vực có môi trường sư phạm rất tốt của Trung tâm đào tạo thường xuyên quận Tây Hồ với điều kiện rất ưu đãi. Khoa tiến hành đào tạo ổn định tại đấy trong 2 năm học 95-96 và 96-97, điều kiện địa điểm về mọi mặt đều có phần trội hơn so với các Khoa khác trong Viện.
Năm học 1997 – 1998 là một năm bản lề đối với Khoa về mặt cơ sở đào tạo.
*Chi hội Tin học với quan hệ và năng lực tài chính tự tạo của mình, đã đứng ra ký hợp đồng dài hạn thuê một cơ sở của Viện công nghiệp tầu thủy đang xây dựng dở dang (nguyên dự định dung để tổ chức một cơ sở đào tạo công nhân, kỹ thuật viên ngành vận tải thủy nhưng nay không sử dụng nữa) rồi chuyển giao gần như toàn bộ cho Khoa. Sở dĩ phải thông qua Chi hội Tin học là vì bên cho thuê yêu cầu thanh toán trước 50% tiền thuê cơ sở cho 5 năm. số tiền lên đến hàng mấy tỷ đồng. Mà khả năng tài chính của Khoa thì hoàn toàn do tự lực cánh sinh theo nguồn thu hàng năm, không hề có kinh phí của Viện hay Bộ cấp, Khoa chỉ có thể thanh toán tiền thuê cơ sở trong từng năm một, phải nhờ đến nguồn tài chính xã hội hóa mạnh mẽ của Chi hội Tin học: Chi hội Tin học thuê dài hạn trả tiền trước 5 năm rồi cho Khoa thuê lại trả tiền theo từng năm, Chi hội Tin học chỉ giữ lại một văn phòng làm việc nhỏ trong toàn bộ cơ sở.
Và như vậy là từ đầu năm 1998, tại địa điểm Ngõ 161 Đê La Thành, Khoa Công nghệ Tin học – Đại học Mở Hà Nội đã tạo dựng được một cơ sở  khang trang, phục vụ đào tạo, học tập và sinh hoạt  cho sinh viên với  6 phòng làm việc cho Khoa và các Bộ môn, trung tâm, 12 phòng học và 2 Hội trường rộng rãi, 4 phòng máy thực hành, mỗi phòng 30 máy, hàng chục máy tính kết nối mạng và Internet sử dụng cho quản lý và nghiên cứu khoa học, có cả sân chơi và khu vực để xe cho cán bộ sinh viên.     
·         Về tổ chức , trong giai đoạn này Viện ĐH Mở Hà Nội quyết định bổ nhiệm chính thức Hội đồng Khoa học và đào tạo Khóa II gồm:
1/ Chủ tịch:               GS-TS Thái Thanh Sơn – Chủ nhiệm Khoa
2/ Phó Chủ tịch:       PGS-TS Nguyễn Đức Nghĩa – Phó Chủ nhiệm Khoa
3/ Thư ký Khoa học:            ThS Lương Cao Đông
4/  Cố vấn Khoa học:          GS-TS Phan Đình Diệu
5/  Ủy viên:                PGS-TS Nguyễn Gia Hiểu
6/                                 PGS-TS Phạm Văn Ất
7/                                 PGS-TS Nguyễn Địch
8/                                 PGS-TS Nguyễn Thanh Thủy
9/                                 PGS-TSKH Bùi Công Cường
10/                               ThS Thái Thanh Tùng
11/                               Kỹ sư Vũ Việt Anh
            Khoa đề nghị và được Viện đồng ý cho thành lập 05 Bộ môn:
1/ Bộ môn Khoa học xã hội           Tổ trưởng:     Đoàn Văn Đức
2/ Bộ môn Tiếng Anh chuyên ngành      TT        Đoàn Đức Hạnh
3/ Bộ môn Toán học                                    TT        Nguyễn Địch
4/ Bộ môn Công nghệ phần mềm              TT        Phạm Văn Ất
5/ Bộ môn Hệ thống TT & Mạng MT           TT        Nguyễn  Gia Hiểu
Để phục vụ tốt cho công tác nghiên cứu khoa học và tiếp cận sản xuất – một nhiệm vụ không thể thiếu đối với mọi trường đại học – ngày 10/8/1998 Khoa đã được Viện đồng ý cho phép thành lập  hai cơ sở trực thuộc Khoa: Trung tâm nghiên cứu công nghệ đào tạo trực tuyếnTrung tâm quản trị thiết bị CNTT và Mạng máy tính 
1/ Trung tâm Công nghệ đào tạo trực tuyến                  Trưởng TT:    Thái Thanh Tùng
2/ Trung tâm Quản trị thiết bị và Mạng                            Trưởng TT:    Vũ Việt Anh
Trung tâm Công nghệ đào tạo trực tuyếnOnline Instructional Technology Center – OITC được thành lập theo mô hình của Trường Đại học Bang Utah, Mỹ – UTAH State University, về sau đổi tên thành Trung tâm Công nghệ và dịch vụ trực tuyếnOnline Technique and Service Center – OTSC là nơi thai nghén và ra đời của hàng loạt công trình nghiên cứu khoa học của Khoa suốt hàng chục  năm sau này.
Trung tâm quản trị thiết bị và mạng máy tínhEquipment & Network Management Center – ENMC là cơ sở về chuyên chăm sóc các thiết bị phần cứng và hệ thống mạng máy tính sử dụng cho học tập, thực hành, nghiên cứu khoa học trong Khoa. Trung tâm này hoạt động rất có hiệu quả: chỉ riêng chi phí bảo trì sửa chữa hang trăm thiết bị của Khoa hàng năm cũng giảm được hàng trăm triệu. Không những có tác dụng rõ rệt trong Khoa mà Trung tâm còn phát huy tác dụng tích cực đối với toàn Viện và cả đối với các cơ sở liên kết cũng như các cơ sở kinh doanh bên ngoài, góp thêm kinh phí hoạt động cho Khoa và nhất là tạo điều kiện thực tập, thực hành cho sinh viên tiếp cận thực tiễn. Một thành tích rất to lớn và có ích cho xã hội sau đây cần phải kể đến. Khoa có 3 phòng máy tính thực hành với khoảng 100 máy PC. Hàng năm, trung bình thay mới một phòng và có khoảng 30 PC bị thanh lý, loại bỏ. ENMC đã cùng với chi hội tin học tổ chức phục hồi, bảo dưỡng và cung cấp với điều kiện rất ưu đãi (hầu như biếu, tặng) cho các đơn vị liên kết như: Trung tâm giáo dục thường xuyên quận Tây Hồ, Trường T80 (Trường con em dân tộc và học sinh Lào, Campuchia), Trường Tiểu học Thăng Long – đơn vị truyền thống của ngành giáo dục. Chính nhờ công việc này mà các đơn vị đó  mới có điều kiện tiến hành liên kết đào tạo Tin học với Khoa và tự đào tạo cho học sinh của mình.
·         Lễ kỷ niệm 10 năm thành lập…và sau đó…
Thầy trò Tin học Khoa ta,
Hàng năm nhớ Hội THÁNG BA NGÀY RẰM
Từ năm 1994, Thầy trò Khoa CNTH - ĐHM HN luôn ghi nhớ ngày Hội Khoa : “Rằm tháng Ba” và hàng năm đều tổ chức Lễ Hội kỷ niệm trang trọng và ấm cúng.
Năm 2003, Lễ hội kỷ niệm 10 năm thành lập là một dịp để Thầy trò toàn Khoa nhìn lại những chặng đường khó khăn gian khổ nhưng đây tự hào của mình. Cho đến hôm đó Khoa CNTH ĐHM HN đã tự hào chính thức nằm trong hàng ngũ những đơn vị đào tạo và nghiên cứu ứng dụng CNTT có tín nhiệm trong cả nước.
Ngày 15/3/2003, hơn 2000 cán bộ, sinh viên, có cả nhiều đại diện sinh viên từ Quảng Bình, Đà Nẵng, Hải Phòng, Sơn Tây, Nam Định và rất rất nhiều cựu sinh viên của Khoa – không có thông báo mới trực tiếp mà chỉ qua theo dõi trên mạng Internet – đã tập trung về Công viên nước Hồ Tây tham gia lễ hội. Ngoài phần thủ tục báo cáo, tổng kết, sinh hoạt cắm trại và lửa trại từ đêm trước đã tạo ra một không khí thân thiết, tưng bừng…như con cháu trong một đại gia đình xa nhau lâu ngày được về họp mặt.


                                       GS Thái Thanh Sơn trang trọng Khai mạc Hội thảo




Một điểm nhấn quan trọng – mà nhiều lễ hội kỷ niệm cấp Khoa, ngay cả cấp Trường cũng khó tổ chức – đã được tiến hành nghiêm túc và có chất lượng: Hội thảo khoa học về ứng dụng CNTT trong giáo dục và đào tạo. Tham gia Hội thảo, có nhiều báo cáo và tham luận có chất lượng (sau đó một số đã được đăng trên các tạp chí khoa học trong nước và nước ngoài) không những chỉ của giảng viên cán bộ trong Khoa mà còn có sự đóng góp của một số nhà khoa học hàng đầu trong nước : GS Phan Đình Diệu,


Khách quốc tế và bè bạn tham dự Hội thảo

GS Nguyễn Thanh Thủy, PGS Phạm Văn Ất, GS Lâm Quang Thiệp, PGS Vũ Chấn Hưng, PGS Vũ Ngọc Cừ v..v… đặc biệt còn có một số khách mời quốc tế tham dự. Một điều đáng ngạc nhiên và trân trọng – điều này hình như chưa hề xảy ra ở Việt Nam đối với một Hội nghi khoa học cấp Khoa – là sự có mặt nghiêm túc, tham dự từ đầu đến cuối Hội thảo và tham gia phát biểu của Vụ trưởng Vụ Nghiên cứu khoa học và Vụ Giáo dục thường xuyên cúa Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng với Viện phó Viện Giáo dục Việt Nam.
Sau Lễ hội kỷ niệm 10 năm thành lập đáng nhớ đó, trong ngành CNTT nước nhà nói chung, cái tên FITHOU đã trở thành quen thuộc và được yêu mến của đông đảo mọi người. (Sinh viên FITHOU trước đây có khi còn mặc cảm tự ti đôi chút trước bạn học ở các trường “Ông lớn” nhưng nay đã hoàn toàn tự tin ngửng cao đầu – và thực sự cũng có quyền ngửng cao đầu!)
·         Nhà trường ảo FITHOU CYBERSCHOOL
Internet ra đời từ những năm 80 của thế kỷ trước nhưng ứng dụng còn hạn chế và còn chưa phổ biến, Việt Nam mãi đến tháng 12/1997 mới bắt đầu ký kết tham gia.Từ hội thảo Mauritius năm 1992 về các phương tiện truyền thông multimedia sử dụng cho đào tạo từ xa rồi đến các khảo sát trong các năm sau ở các Đại học Mở Thái Lan – Ramkhamheng và SukhoThai Thammathirat - và hệ thống Đại học Phát thanh & Truyền hình Trung quốc – Côn Minh và Thương Hải…Viện Đại học Mở Hà Nội trong những năm đầu khẳng định chọn một kênh của đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam làm phương tiện truyền thông sử dụng trong đào tạo từ xa trong Viện (Chủ yếu là cho Khoa kinh tế và Khoa Luật)


Lê Hữu Dũng, “đại ca” bé nhỏ, một trong các nguồn sức sống cua OTSC

Tuy nhiên sau quá trình nghiên cứu tìm hiểu của mình và thông qua các hội thảo quốc tế tế do APEID, UNESCO và UNEVOC tổ chức, nhất là sau đợt tìm hiểu và khảo sát tại chỗ tại trường Đại học bang UTAH – Utah State University ở Mỹ, Khoa CNTH khẳng định quyết tâm nghiên cứu phương thức đào tạo từ xa qua máy tính và Interrnet – Computer aided Learning and Internet based training: đây là một quyết định táo bạo và đột phá trong thời kỳ đó.
Năm 2000, Khoa xây dựng website đầu tiên của mình tại địa chỉ:
Chỉ sau không đầy một năm, số lượt truy cập website đã lên đến hàng trăm ngàn và VNPT đã đánh giá đây là một website giáo dục  có lượng truy cập vào loại lớn nhất ở Việt nam thời đó.
Năm 2001, Khoa bắt đầu phát triển rộng hệ đào tạo từ xa và có các Trung tâm đào tạo tại Hải Phòng, Hải Dương, Quảng Bình, Đà Nẵng, Bình Định, Quảng Ngãi v..v.., nhu cầu giao lưu giữa học viên ở xa với Khoa và nhà trường tăng vọt và trở nên bức thiết. Khoa đã chỉ đạo trung tâm OTSC nhanh chóng xây dựng một diễn đàn trao đổi học tập tích hợp vào website để đưa lên một số giáo trình, bài giảng, bài tập thực hành đồng thời tạo một kênh giao tiếp thân thiện và thuận tiện cho học viên với Khoa, với giáo viên, giữa học viên với nhau. Sinh viên hưởng ứng quá nhiệt tình, chỉ trong vòng 6 tháng số thành viên đăng ký đã lên đến trên 3000 sinh viên đang học và rất nhiều người ngoài Khoa), hàng ngày có hàng trăm thậm chí những dịp cuối kỳ học có khi lên đến hàng nghìn lượt truy cập. Một diễn đàn trên website hoàn toàn không đủ khả năng đáp ứng! Trung tâm OISC theo chỉ đạo của Khoa đã nhanh chóng tách và nâng cấp diến đàn trao đổi học tập thành một “Nhà trường ảo” : FITHOU CYBERSCHOOL đặt tại địa chỉ:                                   www.forum.fithou.net.vn
Forum.fithou  có gần đủ các chức năng giao tiếp: Thầy – Trò, Người học – Bạn đồng học, Người học – Tổ chức quản lý học tập. với nhiều diễn đàn con: từ các diễn đàn trao đổi học tập và các tutorial học tập theo từng Bộ môn, diễn đàn trao đổi kinh nghiệm học tập, làm bài tập, khóa luận…cho đến các diễn đàn trao đổi sinh hoạt, tin tức vui buồn mọi mặt trong Khoa, cập nhật thông tin, thông báo v..v.. thực sự trở thành là một “nhà trường ảo của tập thể cán bộ và sinh viên FITHOU.
Năm 2002 và 2003, đại diện của Khoa đã giới thiệu FITHOU Cyberschool tại nhiều hội nghị, hội thảo quốc tế của AAOU, APEID và UNESCO, UNEVOC và đặc biệt tại 2 hội nghị World Summit of MegaUniversities của các “đại gia” hàng đầu trong lĩnh vực đào tạo từ xa và đào tạo mở quốc tế  tại Thái Lan, Indonesia, Trung quốc, Hàn quốc, Canada, Vương quốc Anh…và đã nhận được những đánh giá khá trân trọng. Qua các hội thảo đó, 2 cán bộ của Khoa (OTSC): Thái Thanh Tùng và Lê Hữu Dũng, được mời tham gia dự án : Đại học ảo tiểu vùng Mekong – The Great Mekong Subregion Virtual University – GMS VU - do UNESCO Châu Á – Thái bình dương chủ trì và tài trợ. Tiếp sau đó OTSC đã ký hợp đồng xây dựng gói phần mềm thực hiện một chương trình đào tạo hướng dẫn viên du lịch quốc tế trong khu vực cho GMS VU.


FITHOU Cyberschool cũng là nội dung chủ yếu trong báo cáo tổng kết của đề tài cấp Bộ của Khoa: “Nghiên cứu công nghệ đào tạo mới trong đào tạo từ xa và đào tạo mở” tiến hành trong 2 năm 2002 – 2004 và đã được Hội đồng nghiệm thu cấp Bộ đánh giá xuất sắc tháng 12/2004.

Trong những năm 2005 -2006 cán bộ và thực tập sinh Khoa CNTT và trung tâm OTSC đã tiếp tục nghiên cứu nâng cấp đề tài gốc ban đầu thành nhiều gói phần mềm ứng dụng có thể sử dụng hoàn toàn có hiệu quả cho đào tạo. Tuy nhiên suốt trong thời gian 4, 5 năm sau năm 2006 khi có đường lối và các biện pháp quản lý mới của Viện thì tính chủ động của Khoa và các Trung tâm trong Khoa gặp nhiều hạn chế. Cũng vì nhiều lý do “nhạy cảm” mà trước đây hồi 2003 – 2004 Viện đã sử dụng toàn bộ gói kinh phí khá lớn trên 4 tỷ đồng của Bộ cấp cho đề tài nghiên cứu công nghệ cho đào tạo của Viện để trang bị hệ thống “Cầu truyền hình sử dụng cho đào tạo từ xa” mà không dành một tỷ lệ khiêm tốn dù chỉ 10 -15% cho đề tài của Khoa (Được biết Cầu truyền hình cho đào tạo là một sản phẩm của Học viện Bưu chính – Viễn thông sản xuất ra nhưng không sử dụng được mà cũng không thể bán cho ai nên đã gợi ý “bán rẻ” cho Viện ĐH Mở HN). Hệ quả rất rõ ràng là sản phẩm cầu truyền hình trong ĐTTX qua vài lần “trình diễn” thì sau đó không hề được dùng vì hiển nhiên là điều kiện ứng dụng, dàn dựng, bảo trì thiết bị, tập hợp học viên v..v.. quá khó khăn và tốn kém, không thể dùng nổi. Trong khi đó FITHOU Cyberschool không hề có đồng kinh phí nào được Bộ và Viện rót vào mà vẫn phát huy tác dụng tốt. 

Kéo xuống, nhấn vào "Bài đăng cũ hơn" để đọc tiếp Phần IV

Chủ Nhật, 11 tháng 8, 2013

FITHOU - 20 năm nhìn lại (4)

·        Phần 4: LẠI CHUYỂN NHÀ…VÀ... NHỮNG NĂM KHÔNG MUỐN NHỚ LẠI (2006 -2010)

Cuối năm 2005, Viện trưởng Nguyễn Kim Truy từ nhiệm, Bộ GD&ĐT bổ nhiệm TS Nguyễn Minh Việt đang là Chủ nhiệm Khoa Vô tuyến điện tử ĐHBK Nà Nội về làm Viện trưởng nhiệm kỳ mới. TS Nguyễn Minh Việt cũng là Giám đốc Trường dạy nghề Genetic (Đây là một cơ sở tư nhân đào tạo nghề về CNTT, nhận “chuyển giao thương hiệu” – franchising – từ cơ sở chính ở Singapore, từ năm 1998 thuê cơ sở đặt tại Đại học Bách khoa HN do đó thường tự gán nhãn là Genetic Bách khoa Hà Nội. Gần đây ở ĐHBK có nhiều ý kiến phản ứng gay gắt nên nhân dịp này chuyển sang thuê trụ sở tại Đại học Mở Hà Nội với ý định là tìm cách gắn với danh nghĩa Khoa CNTH Viện ĐH Mở nhằm chính thức hóa các văn bằng chứng chỉ của Genetic từ trước đến nay không được Bộ GD&ĐT công nhận nên đã gây nhiều phản ứng trong học viên và phụ huynh học viên).
*Cơ sở II của Khoa CNTH tại 161 đê La Thành hết thời hạn thuê vào cuối năm 2006. Bộ phận lãnh đạo mới của Khoa không có quan hệ lắm với Công ty chủ quản nên cũng không có chủ trương đàm phán kéo dài hợp đồng thuê cơ sở.
Sau nhiều khó khăn tìm kiếm, Ban lãnh đạo mới của Khoa đã liên hệ với Công ty Mộc Hà Nội, góp vốn xây một khu nhà 6 tầng để được thuê ưu đãi trong thời hạn 10 năm tại số 96 Phố Định Công. Tuy đường vào hơi khó khăn và cảnh quan khu vực không phù hợp lắm với môi trường giáo dục nhưng cơ sở mới cũng có ưu điểm là hoàn toàn độc lập, đầy đủ diện tích rộng rãi, có trang bị tốt cho các phòng học, hội trường, phòng máy thực hành, phòng làm việc cho Chủ nhiệm Khoa, các Bộ môn, các Trung tâm, chỗ để xe cho cán bộ và sinh viên. So sánh với cơ sở đào tạo của các đơn vị khác trong Viện thì đây vẫn có thể xem là địa điểm vào loại tốt nhất (tuy giá thuê hơi cao).
*Một nhiệm kỳ với thủ trưởng Viện mới tất nhiên kèm theo rất nhiều thay đổi về mọi mặt: Nhân sự, chế độ quản lý, đường lối phát triển…của Viện. Và tất nhiên mọi thay đổi của Viện đều có tác động trực tiếp và cụ thể đến Khoa.
Ngoài khó khăn tạm thời về việc chuyển dời địa điểm trong giai đoạn này xuất hiện dần một số khó khăn mới.
*Thứ nhất là về mặt tổ chức nhân sự. Từ đầu năm 2006, Chủ nhiệm Khoa Thái Thanh Sơn và Phó Chủ nhiệm Khoa Nguyễn Đức Nghĩa từ nhiệm, Viện không bổ sung chính thức Chủ nhiệm Khoa mới mà quyết định giao cho Phó chủ nhiệm khoa Lương Cao Đông tạm phụ trách khoa không thời hạn. Vài tháng sau có bổ sung thêm một Phó chủ nhiệm khoa là PGS TS Nguyễn thị Việt Hương, một giảng viên cũng ở Khoa VTĐT ĐHBK HN (và cũng đang là Phó giám đốc Genetic). Vì Lãnh đạo Khoa chỉ là tạm phụ trách, lại không có cấp Trưởng  nên tâm lý không hoàn toàn thoải mái, không mạnh dạn không có tư duy dài hạn, mặt khác tiếng nói trong Viện cũng không có trọng lượng lắm.
Theo qui định mới thì Khoa không còn quyền chủ động về nhân sự nữa. Chỉ trong vòng 6 tháng, Viện đã trực tiếp nhận và giao về cho Khoa một số mới khá nhiều cán bộ, từ lành đạo Khoa đến giảng viên và nhân viên hành chính. Nói chung nhân viên mới đều là những cán bộ tương đối tích cực, có phẩm chất nhưng điều này cũng ảnh hưởng đến tư duy qui hoạch và cơ cấu cán bộ trong khoa.
Một số giảng viên kỳ cựu đã làm việc với Khoa từ hơn 10 năm nay do tuổi cao, sức khỏe kém hoặc cũng do nhiều lý do khác nên đã ngừng hợp tác với Khoa, ngoại trừ 3, 4 Thầy còn hết sức gắn bó như Thầy Địch, Thầy Hào, Thầy Cường, Thầy Phùng v..v... Đáng tiếc hơn nữa là nhiều cán bộ trẻ mà Khoa đã nhận về, đã bồi dưỡng giúp đỡ tận tình, nay bắt đầu trưởng thành và có thể phát huy tác dụng thì lại chủ động lìa bỏ Khoa tìm đến những địa chỉ công tác khác mà họ cho là có nhiều quyền lợi hơn.
*Khó khăn thứ hai mà Khoa gặp ngay phải trong giai đoạn này là vấn đề tài chính. Cũng theo qui định nội bộ mới của Viện thì Khoa không được chủ động tọa chi theo tỷ lệ phân chia như trước đây mà phải tuân thủ chế độ kế toán tập trung. Để có tiền góp vốn xây dựng cơ sở, Khoa đã nhờ Viện tạm ứng một số tiền lớn, phải trang trải dần trong những năm sau. Mặt khác các loại hình đào tạo và hoạt động khoa học sản xuất của Khoa đều có phần giảm sút do thiếu quyền năng động. Lần đầu tiên sau 14 năm kể từ khi thành lập, ngân sách của Khoa bị thâm hụt.
Nhiều công việc phụ trợ cho giảng dạy, thi cử, trang bị cơ sở vật chất cho đào tạo v..v.. có thể tạo ra thu nhập đều dần dần được tập trung về các cơ quan Phòng, Ban trên Viện.Thu nhập nói chung của cán bộ có phần giảm sút, điều này tất nhiên ảnh hưởng đến sự an tâm công tác của cán bộ nhân viên.
Các hoạt động nghiên cứu khoa học và sản xuất lại càng khó khăn hơn. Để có kinh phí “nuôi” công tác nghiên cứu và “nuôi một phần” các thực tập sinh của OSTC và ENMC, Khoa và các trung tâm đã phải tìm cách “hợp pháp hóa việc làm thuê” cho một số đơn vị bên ngoài. Khoa cũng đành phải đồng ý hỗ trợ chuyển giao công nghệ một số gói sản phẩm cho các đơn vị bên ngoài có yêu cầu sử dụng. Điều đáng suy xét là trong khi sản phẩm của Khoa và OTSC được nhiều cơ sở bên ngoài yêu thích và đánh giá cao thì một số đơn vị trong Viện – vì nhiều lý do tế nhị - lại chỉ muốn “mua” để sử dụng cho mình những phần mềm của các đơn vị ngoài Viện chuyển giao (dù rằng tính năng và chất lượng không có gì đáng nói) nhưng lại không muốn nhận chuyển giao các sản phẩm “cây nhà lá vườn” của OSTC cung cấp với giá thành thấp hơn hẳn!

Có thể xem giai đoạn 2006 – 2010 là 5 năm tạm chững lại trong đà tiến liên tục của Khoa CNTT từ ngày thành lập.


Kéo xuống, nhấn vào "Bài đăng cũ hơn" để xem tiếp phần 4 - cuối

Thứ Bảy, 10 tháng 8, 2013

FITHOU - 20 năm nhìn lai - (5)

Phần 5: NHỮNG CÁNH CHIM TRỞ VỀ VÀ TRANG SỬ MỚI ĐANG MỞ RA…

Năm 2010, nhiệm kỳ của Viện trưởng Phạm Minh Việt kết thúc.
Qua thăm dò cơ sở, Bộ GD&ĐT bổ nhiệm TS Lê Văn Thanh, nguyên Giám đốc Trung tâm ĐTTX của Viện làm Viện trưởng nhiệm kỳ 2010 – 2015.
Vấn đề đầu tiên mà một thủ trưởng đơn vị mới phải quan tâm tất nhiên là vấn đề nhân sự. Một điều nổi bật khác với Viện trưởng tiền nhiệm là ngoài việc chú ý bổ trí đội ngũ cán bộ trẻ năng động, Viện trưởng Lê Văn Thanh rất chú trọng đến việc động viên thu hút kinh nghiệm của các cán bộ lão thành đóng góp cho sự phát triển của Viện. Ở cấp Viện đã quyết định thành lập một Hội đồng tư vấn gồm 17 cán bộ lão thành trong toàn Viện có năng lực, có uy tín và còn sức khỏe tham gia và mới nguyên Viện trưởng Nguyễn Kim Truy làm Chủ tịch Hội đồng. Nguyên Chủ nhiệm Khoa Thái Thanh Sơn cũng đựơc mời tham gia Hội đồng tư vấn của Viện.
*   Khoa Công nghệ Tin học cũng được Viện quyết định thành lập Hội đồng tư vấn ngành và mời Thầy Thái Thanh Sơn, Thầy Nguyễn Gia Hiểu và Cô Nguyễn thị Việt Hương tham gia.
*   Cũng với quan điểm sử dụng tốt các cán bộ đã gắn bó lâu năm trong Viện vào các cương vị lãnh đạo chủ chốt, Viện đã mời TS Trương Tiến Tùng, nguyên lớp trưởng lớp sinh viên 01-91-01A, khóa đầu tiên tốt nghiệp của Khoa, sau đó được giữ lại làm công tác trong Khoa từ 1995 – 1999. Năm 2000 đ/c Trương Tiến Tùng xin phép đi làm nghiên cứu sinh tự túc tại Đại học kỹ thuât St Petersbourg, Cộng hòa Liên bang Nga và đến năm 2005 tốt nghiệp về nước, đang làm Trưởng Ban Công nghệ tại Vịên Nghiên cứu và Phát triển Tin học ứng dụng Việt Nam - AIRDI. Trên tinh thần hợp tác xây dựng, AIRDI đã vui vẻ tạo điều kiện cho TS Trương Tiến Tùng chuyển vbeef Viện ĐH Mở Hà Nội.
*   Viện nhanh chóng kiện toàn một Ban Chủ nhiệm Khoa trẻ trung và năng động:
            Chủ nhiệm Khoa:                Trương Tiến Tùng
            Phó Chủ nhiệm Khoa:       Thái Thanh Tùng và Dương Thăng Long
Để trở lại đúng với tên gọi phổ biến trong hệ thống giáo dục nhà nước, một lần nữa Viện đồng ý cho phép Khoa lấy lại tên gọi cũ là Khoa Công nghệ thông tin – Đại học Mở Hà Nội.
·         Viện cũng quyết định thành lập 5 Bộ môn mới trong Khoa và Hội đồng Khoa gồm 5 phụ trách Bộ môn:
1.    Bộ môn cơ sở:                               Trưởng Bộ môn       : Trương Tiến Tùng
2.    Bộ môn Công nghệ Web:            Phụ trách                  :  Thái Thanh Tùng
3.    Bộ môn Hệ thống thông tin:                                            :   Dương Thăng Long
4.    Bộ môn Đồ họa:                                                              :  Trần Duy Hùng
5.    Bộ môn Mạng máy tính                                                    :   Đinh Tuấn Long

·         Ngay sau đó là một tin vui lớn nữa cho Khoa: Chủ nhiệm Khoa Trương Tiến Tùng được Bộ Giáo dục và Đào tạo tín nhiệm bổ nhiệm làm Phó Viện trưởng Viện Đại học Mở trong nhiệm kỳ 2010 – 2015 này.

Thầy Trương Tiến Tùng và một khóa sinh viên tốt nghiệp tại Việt Trì

·         Sự kiện nổi bật đầu tiên trong Khoa, có tác động khơi lại khí thế hoạt động mạnh mẽ của toàn Khoa là nhân ngày Hội Khoa lần thứ 18 – 15/3/2011, cúng là dịp kỷ niệm 15 năm tốt nghiệp của các khóa sinh viên đầu đàn của Khoa. Khoa phối hợp với Ban Liên lạc Cựu sinh viên FITHOU đã tổ chức ngày Hôi chào đón : “Những cánh chim trở về” tại Cung Văn hóa Thiếu nhi Hà Nội. Ngoài thành phần cán bộ nhân viên và hàng nghìn sinh viên các hệ đào tạo đang học trong Khoa tại Hà Nội và tại các tỉnh lân cận : Việt Trì, Bắc Ninh, Sơn Tây còn có hàng trăm sinh viên đã tốt nghiệp của Khoa đang công tác khắp mọi mền đất nước đã sắp xếp về tham dự.
                           



Đón chào những cánh chim trở về…cùng nhau tung cánh

Một nôi dung gây nhiều xúc động cho các thế hệ Thầy – Trò trong Khoa là những cuộc giao lưu công khai thân mật, có lợi ích thiết thực giữa tập thể sinh viên đang học với các đại diện các thế hệ học sinh đã ra trường, trong đó nhiều người hiện đang giữ những cương vị quan trọng trong các cơ quan Nhà nước, trong các doanh nghiệp lớn trong và ngoài quốc doanh.
Ban liên lạc Cựu sinh viên FITHOU cũng đã quyết định xây dựng một quỹ học bổng FITHOU nhằm hỗ trợ cho sinh viên trong Khoa có thành tích học tập nghiên cứu tốt và/hoặc có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt. Ngoài ra, cũng có đề cập đến những phương thức liên hệ và một kênh liên lạc nhằm hỗ trợ cho sinh viên khi mới ra trường.
Trọng tâm công tác chuyên môn của Khoa cũng như của toàn Viện trong thời kỳ này là chuẩn bị thật tốt để thực hiện việc chuyển sang đào tạo theo tín chỉ. Về phía Khoa, toàn thể cán bộ giảng dạy và quản lý trong Khoa đã tích cực chuẩn bị bước vào thực hiện phương thức đào tạo theo tín chỉ thực hiện thí điểm từ năm học 2012 – 2013 tiến đến thực hiện đại trà trong năm học sau. Việc bổ nhiệm hệ thống lãnh đạo Khoa và các Bộ môn mới cùng với Ngày hội “Cánh chim trở về” đã thổi một luồng gió mới, xua tan bầu không khí trầm lắng của 5 năm trước.
*Đóng góp tích cực đầu tiên của Khoa cho toàn Viện là GS Thái Thanh Sơn đại diện Khoa trong Hội đồng tư vấn của Viện đã được cử đồng chủ trì đề án với GS Nguyễn Kim Truy: Cải cách và tái cấu trúc Viện Đại học Mở Hà Nội, đặc trách mảng công nghệ. Dự án của GS Thái Thanh Sơn đã được Hội đồng tư vấn thông qua làm tài liệu chính thức của Viện và báo cáo cho toàn thể cán bộ cốt cán trong Viện học tập
*Giảng viên trong các Bộ môn tích cực tìn hiểu về phương thức đào tạo theo tín chỉ và chuẩn bị đề cương, nội dung cũng như ohương pháp giảng dạy theo tinh thần mới. Nhiều giáo trình được tích cực thảo luận để chuẩn bị biên soạn và xuất bản phục vụ cho phương thức đào tạo theo tín chỉ.
*Về mặt công nghệ, theo chủ trương của  Khoa Công nghệ thông tin, Trung tâm OTSC cũng có đột phá mới. Trung tâm đã hoàn thành Hệ thống quản lý đào tạo theo tín chỉ - Credits Training Management System – CTMS  và đầu năm học 2011 – 2012 đã đưa vào sử dụng thí điểm tại Khoa. Sang năm học 2012, OTSC đã tiến hành chuyển giao công nghệ và hướng dẫn sử dụng cho một số khoa bạn trong Viện như: Khoa Du lịch, Khoa Luật…và tiếp đến sẽ là nhiều khoa khác. Phải thấy rằng khi chuyển sang đào tạo theo tín chỉ thì hệ thống quản lý không quản lý theo từng Lớp sinh viên  mà phải quản lý theo từng sinh viên. Số lượng đối tượng quản lý của hệ thống tăng gấp hang trăm lần và độ phức tạo cũng tăng vọt lên, Nếu chỉ quản lý thweo phương thức thủ công thông thường trước đây thì rõ ràng là không thể đáp ứng được: Hoặc là không thể quản lý hooawcj là chỉ quản lý một cách hoàn toàn hình thức, không hiệu quả thậm chí phải đối phó bằng cách thực hiện phương thức đào tạo theo tín chỉ một cách giả tạo. Vì vậy mà lãnh đạo Viện hết sức coi trọng việc áp dụng CTMS cho toàn Viện: đây là một đóng góp to lớn của OTSC và Khoa CNTT cho sự nghiệp dào tạo của toàn Viện.
* Ngày 15/3/năm 2013, toàn Khoa lại tưng bừng sôi nổi tổ chức một ngày Hội đặc biệt : Lễ hội kỷ niệm 20 năm thành lập Khoa.
Do số lượng người tham dự rất đông cho nên ngày hội năm nay được tổ chức nghiêm túc và hoành tráng tại Nhà Văn hóa thể thao quận Thanh trì.




FITHOU 15/3/1993 – 15/3/2013: Hai mươi năm ấy biết bao nhiêu tình!

Toàn thể các thế cán bộ, nhân viên và sinh viên trong khoa trong ngày hội năm nay đều  như tìm lại được  tình cảm, niềm tin và quyết tâm của thời gian 5, 10 năm trước.
Trước mắt, ngay trong năm học 2013 – 2014 này và những năm tiếp sau rõ ràng Khoa đang đối mặt với hàng loạt khó khăn do tình hình vĩ mô của đất nước nói chung cũng như của ngành giáo dục và đào tạo nói riêng mang lại. Riêng đối với Khoa, tuổi trưởng thành cũng gây ra nhiều khó khăn tự than rất to lớn, khó khắc phục.Tuy nhiên mọi người đều tin tưởng chắc chắn rằng với sự đoàn kết gắn bó, với truyền thống phấn đấu 20 năm qua chắc chắn FITHOU sẽ luôn vững vàng tiến về phía trước và tiếp tục phấn đấu đưa vị thế của Khoa CNTT ĐH Mở Hà Nội ngày một cao, tiếp tục viết nên những trang sử vẻ vang cho 30, 50 năm và lâu hơn nữa.   



Hà Nội, Tháng 3 năm 2013      

Thứ Năm, 8 tháng 8, 2013

HOU SỬ LƯỢC

SỰ RA ĐỜI CỦA VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI: NHỮNG CÂU CHUYỆN CHƯA KỂ TỪ VÀI BA MƯƠI NĂM TRƯỚC…

(... Dưới đây là những hồi ức và suy nghĩ hoàn toàn của cá nhân tác giả trong một giai đoạn gần 25 năm sôi động gắn liền với những người bạn thân thiết cũng như với những người trái quan điểm gay gắt. Tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm về bài viết của mình và vui lòng sẵn sàng  tranh luận với mọi người quan tâm...)


Mở đầu

Năm 1945, ngay từ khi nền dân chủ cộng hòa vừa thành lập,, dân tộc Việt Nam đã phải anh dũng gồng mình đương đầu với 30 năm chiến tranh ác liệt và cuối cùng đã chiến thắng hai đế quốc mạnh hàng đầu thế giới. Chính sách cấm vận trong hơn 10 năm sau đó của đế quốc Mỹ và bè lũ lại tiếp tục âm mưu cô lập nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa với phần lớn thế giới – kể cả các nước láng giềng có truyền thống giao lưu từ xưa trong khu vực ASEAN – hòng kìm hãm nhân dân Việt Nam trong đói nghèo, lạc hậu.
Chủ trương ĐỔI MỚI của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong thập kỷ 80 của thế kỷ trước đã có một tác động quyết định trong việc đưa Việt Nam phát triển  nhằm thoát khỏi vị trí của một quốc gia đói nghèo và tiến lên trên con đường hội nhập quốc tế bình đẳng về mọi phương diện,

Phần I: Nóng bỏng, rối rắm…và mờ mịt…

Kinh tế xã hội phát triển nhanh chóng đã bộc lộ rõ rệt những nhược điểm cơ bản của hệ thống giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực.trước đó.Trước đòi hỏi của giai đoạn phát triển kinh tế xã hội mới, nhân lực có của Việt Nam vừa yếu vừa thiếu: thiếu về đô lượng, về ngành nghề và yếu về chất lượng, kiến thức và nhất là kỹ năng trong những lĩnh vực kinh tế mũi nhọn. Nền giáo dục và đào tạo trong nước lúc đó – kể cả sự bổ sung của nguồn đào tạo hang năm được gửi sang các nước Đông Âu và Liên Xô  – hoàn toàn không đáp ứng nhu cầu mới mẻ và to lớn của xã hội đương thời.
Đảng và Nhà nước đã kịp thời thấy rõ nhu cầu bức thiết đó và đã đưa ra phương châm chỉ đạo chiến lược : Giáo dục là quốc sách hàng đầu, kèm theo nhiều chủ trương, nghị quyết và khuyến cáo đẩy mạnh đổi mới giáo dục và đào tạo.
Thế nhưng những chủ trương cụ thể về mục tiêu và phương thứ  thực hiện một cuộc cách mạng – đổi mới thực sự trong hệ thống giáo dục và đào tạo thì đội ngũ chuyên gia trong cả nước hoàn toàn đang lúng túng…
Nội dung chính của việc đổi mới hệ thống giáo dục – đào tạo trong thời kỳ này tập trung vào hai mục tiêu chủ yếu.
Mục tiêu thứ nhất, có tính chiến lược dài hạn trong suốt hàng chục năm sau là: Xác định đúng nội dung, yêu cầu của việc phân luồng, phân loại đào tạo nguồn nhân lực sau Trung học sao cho đầu ra của hệ thống đào tạo trong từng giai đoạn đáp ứng đúng với nhu cầu thực sự của kinh tế - xã hội đồng thời cũng phù hợp nhất với khả năng tài chính, hoàn cảnh xã hội và năng lực thực sự của từng đối tượng được đào tạo.
Mục tiêu thứ hai, vừa là yêu cầu cấp bách trong ngắn hạn nhưng cũng vừa đóng góp vào chiến lược giáo dục và đào tạo lâu dài” Tìm hiểu, thí điểm tiến đến những phương thức và loại hình đào tạo mới, hiện đại nhằm bổ sung, hỗ trợ cho loại hình đào tạo truyền thống được thực hiện trong nước từ hàng trăm năm nay, qua nhiều chế độ chính trị trong 4 thời kỳ lịch sử: Thời kỳ trước Cách mạng Tháng 8 với hệ thống giáo dục của thực dân Pháp thực hiện trong hơn 80 năm kết thúc bằng một dự án cải cách dở dang do Hoàng Xuân Hãn đề xướng nhưng chưa được thực hiện; thời kỳ hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, thời kỳ hội nhập quá độ giữa nền giáo dục Miền Bắc XHCN với nền giáo dục được thực hiện do chính quyền ngụy Sài gòn trước đó trong vùng tạm chiếm và cuối cùng là thời kỳ sau năm 1980.
Nhiều đoàn cán bộ giáo dục ở cấp Bộ, ngành được cử đi học tập kinh nghiệm các nước – chủ yếu là các quốc gia phát triển phương Tây mới bắt đầu có quan hệ với Việt Nam. Nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục người Việt yêu nước trên thế giới cũng đã gửi thư, góp ý, thậm chí có người còn vài ba lần về nước tham dự hội thảo, thảo luận với chuyên gia trong nước và  xin được trực tiếp trình bày ý kiến với các nhà lãnh đạo Nhà nước và ngành giáo dục như Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Tạ Quang Bửu v..v..
Vào thời kỳ này, toàn thế giới đang bắt đầu sôi sục tiến bước vào một kỷ nguyên mới: của loài người: kỷ nguyên của Nền Kinh tế mới – Nền kinh tế tri thức – Nền kinh tế học tập - cho nên ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, nhất là ở các nước phát triển, đều đang có những phong trào và chủ trương cải cách, đổi mới giáo dục của từng nước.
Hai phương hướng có ảnh hưởng quan trọng đến tư duy của các nhà quản lý giáo dục Việt Nam lúc ấy là chủ trương xây dựng Đại học 2 giai đoạn của Pháp và chủ trương xây dựng các Đại học cộng đồng địa phương của Mỹ.
Từ rất lâu trước năm 1980, hệ thống đại học Pháp – và ở cả khôi các quốc gia sử dụng Pháp ngữ - người ta chủ trương nhập học tự do sau trung học (admis d’office). Ngoại trừ các trường đào tạo bác sĩ y khoa và kỹ sư các chuyên ngành có tổ chức thi tuyển sinh vào trường, tất cả các đại học (Univerrsité) khác đều nhận sinh viên tốt nghiệp Tú tài (Baccalauréat) vào thẳng học một năm giai đoạn một (Premier cycle), cuối năm có một kỳ thi rất ngặt nghèo tuyển sinh vào giai đoạn chuyên ngành. Thông thường tỷ lệ rơi rụng của kỳ thi này lên đến 70, 80%. Do năng lực thu nhận của hệ thống đại học Pháp rất lớn, phương thức này có vẻ biểu hiện được việc “tạo điều kiện học tập bình đẳng cho mọi người”  Sau khi tốt nghiệp Trung học, ai không muốn học nghề và đi làm đều có thể “thử sức” trong 1 năm – thậm chí vài ba năm – xem mình có theo học đại học được không? Sau vài ba năm, nếu thực sự thấy rõ trình độ và khả năng của mình mà nản lòng thì đành rút lui tìm đường khác! Tuy nhiên đứng về phía quốc gia thì đây là một sự lãng phí ghê gớm vì hàng năm đất nước phải bỏ ra một khoản chi phí đào tạo rất lớn mà chẳng thu được gì. Đối với những thanh niên giữa đường đứt gánh thì thiệt hại càng lớn hơn: Không những lãng phí tiền nong, họ đã còn lãng phí vài năm tuổi thanh xuân để bắt đầu lại từ đầu.
Từ cuối những năm 80 của thế kỷ trước, dưới thời Bộ trưởng Josseph Fontanet nhiều nhà cải cách giáo dục Pháp đã đưa ra mô hình đại học hai giai đoạn 2 + 2: Giai đoạn một đối với sinh viên vào các trường đại học không qua thi tuyển được nâng thành một giai đoạn đào tạo gọi là ĐẠI HỌC ĐẠI CƯƠNG và kết thúc được cấp chứng chỉ ĐHĐC – Diplôme d’ Etudes Universitaires générales – DEUG – Sang thời kỳ bộ trưởng Lionel Jospin, từ năm 1993, trong chương trình học 2 năm, có cung cấp phần kiến thức đại cương chuẩn bị cho giai đoạn chuyên ngành về sau nhưng cũng có một số kiến thức thực hành của giai đoạn chuyên ngành (DEUG avec obtion). Sinh viên sau 2 năm ĐHĐC, nếu không tiếp tục học chuyên ngành để lấy bằng Cử nhân (Lycense) thì cũng có kiến thức nghề trình độ trung cấp về một chuyên ngành nào đó để có thể tham gia thị trường lao động có hiệu quả hoặc nếu tham gia học các trường dạy nghề (Arts et métiers) thì nội dung học được giảm bớt và thời gia đào tạo rút ngắn. Sau vài năm thí điểm, chương trình đại học 2 giai đoạn với ĐHĐC có chuyên ngành (DEUG avec obtion), nhiều nhà trường đại học ở Pháp thực hiện phương thức đào tạo này và được đông đảo sinh viên hào hứng chấp nhận.
Năm 1993, GS Bùi Trọng Liễu, giáo sư thực thụ Đại học Lille, Chủ tịch Hội trí thức người Việt ở Pháp và Nữ Luật sư Joelle Duy Tân, giáo sư Đại học Paris IV - là 2 trong số những đồng tác giả tích cực chính của mô hình đào tạo DEUG avec obtion - đã sang Việt Nam trong suốt 2 tuần lễ để giới thiệu mô hình này với các nhà lãnh đạo giáo dục Việt Nam cũng như trao đổi chi tiết với nhiều nhà giáo Việt Nam.
Cũng trong thời kỳ đó Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp cử một số cán bộ nghiên cứu đi tìm hiểu về mô hình các trường đại học cộng đồng – Community College - ở Mỹ.
Hệ thống giáo dục và đào tạo của Mỹ từ trước vẫn có xu hướng thực dụng hơn nhiều so với đường lối đào tạo thiên về “hàn lâm” như ở các quốc gia Pháp ngữ và khối Đông Âu cũ. Ngoài hệ thống các trường đại học nổi tiếng – trong đó một số rất lớn trường hàng đầu đều là trường tư thục - ở các bang và các thành phố lớn của Mỹ có một hệ thống trường Cao đẳng cộng đồng – Community College – công lập nhằm đáp ứng nhu cầu học tập tại chỗ của nhân dân. Chương trình đào tạo hai năm ở cao đẳng cộng đồng Mỹ gần giống như chương trình DEUG có chuyên ngành ở Pháp sau này: ngoài những kiến thức đại cương cơ bản cần thiết cho những ai muốn tiếp tục học lên chương trình đại học về sau, người ta rất chú trọng đến một số kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp – trình độ trung cấp – như: kế toán, thư ký, tin học thực hành, sửa chữa cơ khí, điện, điện tử, quảng cáo và tiếp thị v..v..Mục đích của các trường Cao đẳng cộng đồng cũng là chuẩn bị cho một bộ phận sinh viên tốt nghiệp học tiếp lên đại học, còn một số  (tỷ lệ thường khá lớn) sau khi tốt nghiệp thì trực tiếp tham gia thị trường lao động với những tri thức nghề nghiệp được trang bị khá tốt và sau một thời gian, nếu có điều kiện và còn có nguyện vọng thì vẫn có kiến thức cơ bản đủ để tham gia học cao hơn theo các phương thức đào tạo thường xuyên – continuing formation.
Kết quả của những quá trình nghiên cứu tham khảo kinh nghiệm quốc tế nói trên là từ năm học 1986 ngành giáo dục đại học Việt Nam đưa ra phương thức đào tạo đại học theo 2 giai đoạn : 2 + 2 – giai đoạn Đại học đại cương 2 năm và giai đoạn đại học chuyên ngành 2 năm. Hầu hết các trường đại học trong nước đều thực hiện chương trình đào tạo đó, Các trường đại học thành lập những Khoa Đại học đại cương, ở Đại học Bách khoa Hà Nội và Đại học quốc gia Hà Nội thậm chí còn thành lập Trường Đại học đại cương để quản lý sinh viên trong giai đoạn 2 năm đầu.
Tuy nhiên về thực chất thì tinh thần chương trình đào tạo hoàn toàn như cũ, việc ngắt giai đoạn đại học đại cương chỉ là sự phân đôi chương trình đào tạo cũ, sinh viên tốt nghiệp đại học đại cương chỉ là để học tiếp lên giai đoạn 2, nếu không học tiếp thì cái chứng chỉ ĐHĐC và những kiến thức học được trong 2 năm chẳng biết để làm gì (và không có một sự thừa nhận nào của thị trường lao động!)
Ở một số địa phương chưa đủ điều kiện thành lập trường đại học thì Bộ giáo dục cùng với địa phương cũng cho phép thành lập một số Cao đẳng cộng đồng.
Tuy nhiên những Cao đẳng cộng đồng này nhanh chóng trở thành những trường Cao đẳng nghề thông thường vì kiểu đào tạo theo mô hình cao đẳng cộng đồng của Mỹ hoàn toàn không hội nhập được với hệ thống giáo dục đại học Việt Nam mà cũng không thể tạo ra nguồn nhân lực trung cấp cho xã hội.
Vì vậy, chẳng bao lâu (quãng 3, 4 năm sau) mọi thứ trở lại như cũ, từ năm học 1998 hệ thống đại học Việt Nam hoàn toàn xóa bỏ kiểu đào tạo 2 giai đoạn. Các trường cao đẳng cộng đồng cũng nhanh chóng biến tướng thành những cao đẳng nghề hay cao đẳng thông thường.

Có thể thẳng thắn xem rằng đấy là một lần thử nghiệm thất bại. (Tuy rằng cho đến nay trong ngành giáo dục chưa có văn bản nào chính thức đánh giá và tổng kết)


Phần II: Một bước đệm cần thiết: Viện Đào tạo mở rộng…mục tiêu là gì???

Tuy nhiên nhiệm vụ tìm tòi phương thức và loại hình đào tạo mới, phù hợp với nhu cầu bức thiết của xã hội đương đại vẫn là vấn đề rất lớn cần được giải quyết. Nhiều nhà nghiên cứu giáo dục Việt Nam vẫn tiếp tục tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế, chủ yếu là ở các quốc gia láng giềng trong khu vực có điều kiện đôi phần tương đồng.
Một khái niệm mới được các nhà giáo dục Việt Nam bắt đầu làm quen: khái niệm OPEN LEARNING mà chúng ta dịch là đào tạo mở. Chúng ta bắt đầu nghe đến một số nhà trường MỞ rất gần gũi về mặt địa lý với chúng ta như : Hongkong Open Learning Institute – Indira Gandhi Open University, SukhoThai Thammathirat Open University, Universitas Ter Buka…
Theo hướng đó, năm 1990, Bộ Giáo dục và đào tạo quyết định thành lập 2 đơn vị: Viện Đào tạo Mở rộng 1 ở Hà Nội và Viện Đào tạo Mở rộng 2 ở TP Hồ Chí Minh với nhiệm vụ chính  là nghiên cứu thí điểm nhằm tìm tòi những loại hình và phương thức đào tạo nguồn nhân lực sau Trung học đáp ứng cho yêu cầu bức thiết của đất nước.

Viện Đào tạo Mở rộng 1 được giao cho một nhà giáo lão thành đầy nhiệt huyết là Kỹ sư Trần Đình Tân, nguyên Phó trưởng Khoa Vô tuyến điện tử trường ĐH bách khoa Hà Nội, nguyên Vụ trưởng Vụ Đại học tại chức, đảm nhiệm chức vụ Viện trưởng với cơ sở vật chất ban đầu là ngôi nhà B, 1 trong 4 ngôi nhà chính trong khu Đông dương học xá cũ (trừ một gian tầng hầm).
Bước đầu mò mẫm, Viện Đào tạo mở rộng 1 tổ chức một số Trung tâm theo kiểu dạy nghề: Trung tâm Tiếng Anh, Trung tâm Tin học, đào tạo theo các chương trình chứng chỉ A, B của Bộ Giáo dục và đào tạo, Trung tâm cơ khí sửa chữa xe máy, mỗi khóa đào tạo 3 – 4 tháng với sĩ số khoảng 25 – 30 người/lớp, giáo viên chủ yếu là mới, Viện chỉ có 5,6 cán bộ quản lý như các ông Nguyễn Ngọc Luyến, Nguyễn Văn Ninh, Nguyễn Ngọc Hồng….
Bước ngoặt quan trọng có tính chất quyết định giai đoạn phát triển về sau là sự gặp gỡ của ông Trần Đình Tân với ông  Nguyễn Kim Truy – kiến trúc sư của Viện Đại học Mở  sau này. Năm 1991, ông Nguyễn Kim Truy vừa tốt nghiệp Tiến sĩ Kinh tế tại Ba Lan về nước mấy năm, được phong Phó giáo sư và đang đảm nhiệm chức vụ Chủ nhiệm Khoa Kỹ sư Kinh tế Hóa chất trường Đại học Bách khoa. Trong thời gian học tâp nghiên cứu ở Ba Lan – một quốc gia khá gần gũi với Phương Tây – TS Nguyễn Kim Truy  biết đến và bắt đầu nghiên cứu tìm hiểu về loại hình đào tạo từ xa.
Ông Trần Đình Tân sau khi, trao đổi với ông Nguyễn Kim Truy thì lập tức tác động với Ban Giám hiệu ĐH Bách khoa và đề nghị Bộ GD&ĐT bổ nhiệm ông Truy về làm Phó Viện trưởng Viện ĐT Mở rộng, chuẩn bị thay thế mình sắp nghỉ hưu. Sau khi ông Tân nghỉ hưu, Bộ nhanh chóng bổ nhiệm ông Nguyễn Kim Truy làm Viện trưởng Viện Đào tạo Mở rộng 1..
*Việc đầu tiên của ông Truy làm sau khi đảm nhiệm chức vụ Viện trưởng là vận dụng tín nhiệm của mình với lãnh đạo Bộ và lãnh đạo các trường đại học bạn cũng như quan hệ cá nhân để xây dựng một tập thể hạt nhân đồng chí đồng tâm, tìm cách đưa về dưới mọi hình thức một đội ngũ cốt cán ban đầu. Chuyển chính nhiệm về Viện có các ông: Nguyễn Đăng Sửu, Phan Văn Quế từ ĐH SP Hà Nội 1, Lê Văn Thanh từ ĐHSP Hà Nôi 2, Phan Trọng Phức mới xong thời gian công tác từ Liên Xô về. Một số cán bộ nhiệt tình và rất có tâm huyết nhưng không thể chuyển hẳn về như các ông Thái Thanh Sơn, Lê Văn Nhương, Nguyễn Văn Thanh từ Đại học Bách khoa, Hồ Phong Tư, Nguyễn Văn Luật từ Văn phòng chính phủ, Nguyễn Ngọc Dũng từ trường đại học Văn hóa… thì liên hệ để trường bạn, cơ quan bạn và Bộ GD đồng ý cho biệt phái sang làm việc tại Viện Đào tạo Mở rộng. Ngoài những cán bộ chính thức chuyển về công tác chính nhiệm hay kiêm nhiệm, PGS Nguyễn Kim Truy còn liên hệ chặt chẽ với một số nhà khoa học và nhà giáo dục hàng đầu trong nước có cùng tâm huyết với sự nghiệp đổi mới giáo dục nhu: GS TS Lâm Quang Thiệp, TS Lê Viết Khuyến, TS Hoàng Minh Luật…ở Bộ Giáo dục và Đào tạo họp thành một nhóm nòng cốt hỗ trợ nhau tiến hành nghiên cứu.

*Một việc thứ hai có tầm quan trọng rất to lớn mà Viện trưởng Nguyễn Kim Truy đã sớm thực hiện được là vấn đề tham gia và hội nhập vào cộng đồng quốc tế các tổ chức cải cách và đổi mới giáo dục và đào tạo.
Cần nhấn mạnh là : Khác hẳn với nhiều đơn vị khác trong ngành giáo dục và đào tạo, hàng năm có kinh phí đối ngoại rất lớn thường sử dụng cho những đợt “”tham quan, thị sát kiêm du lịch giải trí ở nước ngoài“ cho lãh đạo và cán bộ trong cơ quan, Viện Đào tạo Mở rộng 1 không hề được ngân sách cấp có kinh phí loại này. Các cán bộ trong Viện – từ Viện trưởng trở đi – đều tận dụng quan hệ bằng hữu quốc tế của mình, tìm kiếm sự trợ giúp của các tổ chức quốc tế và các trường bạn để tổ chức những chuyến đi tham quan, thị sát thực sự bổ ích và có chất lượng, với thành phần tham gia tối thiểu và đsung đối tượng – nhiều đoàn đại biểu quan trọng cũng chỉ có 1 thành viên!
Năm 1991 Viện trưởng Nguyễn Kim Truy một mình tham dự tổ chức đào tạo từ xa quốc tế của khối Pháp ngữ - CIFFAD – Cooperation Internationale francophone de formation à distance – tại Mauritanie. Sang đó năm 1992 Viện cử TS Thái Thanh Sơn tham gia Séminaire internationale d’ etude post-doctorale – hội thảo quốc tế nghiên cứu trình độ sau tiến sĩ về sử dụng multimedia trong đào tạo từ xa tổ chức tại quốc đảo Mauritius và tiếp đó là tại Bordeaux, Cộng hòa Pháp. Viện Đào tạo Mở rộng Hà Nội chính thức trở thành thành viên của CIFFAD và của ACCT – Hiệp hội văn hóa khối Pháp ngữ.
Cũng trong hai năm 1991 – 1992, hai đoàn đại biểu của Viện đã tham dự các đại hội hàng năm của AAOU – Hiệp hội các đại học mở Châu Á – Asian Association of Open Universities  tại Hongkong và tại Ấn Độ. Viện cũng chính thức trở thành thành viên của tổ chức AAOU.
Một đoàn đại biểu khác của Viện đã thăm chính thức và khảo sát tại hai trường đại học mở có danh tiếng của Thái Lan : ĐH Mở SukhoThai Thammathirat và ĐH Mở Ramkhamheng. Quốc vương Thái Lan đã tặng Viện một chiếc ăngten parabol làm biểu tượng cho phương thức đào tạo từ xa qua hệ thống phát thanh.

Với đường lối mở rộng quan hệ hợp tác với các nhà khoa học và giáo dục có kinh nghiệm trong nước, với sự thực sự cầu thị nghiên cứu học tập quốc tế, chỉ sau 2 năm thành lập, Viện Đào tạo mở rộng đã bước đầu xác định được mục tiêu, đường lối và phương thức phát triển lâu dài sau này của mình làm tiền đề cho việc tiến đến đề nghị Nhà nước quyết định thành lập Đại học Mở Việt Nam : một loại hình đào tạo mới một sản phẩm của nền kinh tế thông tin, nền kinh tế tri thức, của kỷ nguyên mới : kỷ nguyên Học suốt đời: Học để biết. Học để làm,. Học để tồn tại và Học để chung sống!

(Mời chuẩn bị xem tiếp 
Phần III: Phương hướng đã định - Viện Đại học Mở ra đời - 
Phần IV: Con đường phía trước rộng mở)

Thứ Bảy, 13 tháng 7, 2013

Chúc mừng NGÔ BẢO CHÂU và ĐÀM THANH SƠN

Quỹ  Simon trao giải cho Ngô Bảo Châu và Đàm Thanh Sơn


GS  NGÔ BẢO CHÂU

GS  ĐÀM THANH SƠN


Simon Foundation đã trao giải "Simon Investigators Program 2013" cho 13 nhà khoa học kiệt xuất trong các ngành toán học, vật lí học lí thuyết và tin học lí thuyết, trong đó có hai nhà khoa học Việt Nam đều là giáo sư Trường đại học Chicago :
Ngô Bảo Châu (lí thuyết biểu diễn hình học và chương trình Langlands : bổ đề cơ bản và phân thớ Hitchin)
Đàm Thanh Sơn (vật lí lí thuyết và sắc động lực học lượng tử : đối ngẫu tiêu chuẩn - hấp dẫn, vật lí chất ngưng tụ, vật lí nguyên tử).

* Chương trình "Simon Investigators" là một tổ chức tài chính quốc tế hỗ trợ khoa học nhằm cung cấp cơ sở yểm trợ ổn định cho những nhà khoa học kiệt xuất để họ có thể tiến hành nghiên cứu dài hạn những vấn đề cơ bản". 


Thứ Hai, 17 tháng 6, 2013

Các bạn 02 11 B và 03 10 B nộp bài thực hành ở đây nhé!

Đề bài thực hành:


* Tạo một sản phẩm để thực hiện các chức năng trực tuyến sau đây:
     - Giới thiệu doanh nghiệp, Hướng dẫn cách tiếp cận doanh nghiệp, cách chọn và mua hàng...
     - Quảng cáo tiếp thị hàng hóa, sản phẩm. Thu hút và trợ giúp khách hàng 
     - Có thể chọn phương thức thanh toán khả thi và đáng tin cậy (cho cả 2 phía người mua và người bán)
     - Nên có một vài bài đề dẫn chung, những mẩu chuyện vui về ngành hàng của mình để thu hút khách hàng...

* Loại doanh nghiệp và ngành nghề: 
Tùy chọn (Gợi ý: đồ điện máy, quần áo, thời trang, quà tặng....dịch vụ du lịch, ăn uống,...bạn nào làm việc trong ngành giáo dục có thể tạo sản phẩm Dạy và Học trực tuyến: giao tiếp Thầy - Trò, Bạn học, Người học với Trường, Lớp v..v..)

* Công nghệ sử dụng:
Tùy  chọn...gợi ý:
  1/ Có thể dựng website bằng ASP, .NET, PHP rồi tìm Freehossting upload lên
  2/ Có thê (gợi ý nên) dùng hỗ trợ website: Yola, Joomla, Weebly...(Xem hướng dẫn trong blog này)
  3/ Có thể tạo blog, gợi ý nên sử dụng blogspot.com

* Mỗi nhóm tối đa 3 người, khuyến khích làm từng cá nhân

* Cách nộp bài:

Vào phần "Đăng nhận xét - Comment" ở cuối bài này, gửi:

  1/ Tên những người trong nhóm - tên lớp
   2/ Địa chỉ URL của sản phẩm
  3/ Tên mỗi thành viên trong nhóm phải kèm địa chỉ Email của thành viên đó để liên lạc kiểm tra.

* Hạn nộp bài chậm nhất: 24 giờ ngày 10 tháng 7 năm 2013


CHÚC CÁC BẠN LÀM BÀI TỐT!